Fiction Con mèo của Tử thần

  • Thread starter Thread starter liran.tran
  • Ngày gửi Ngày gửi
  • Trả lời Trả lời 0
  • Lượt xem Lượt xem 88

liran.tran

Trial Super Moderator
Thành viên BQT
28/04/2025
212
98
25
Đảo mèo
Thiên Bình
| Title: Con mèo của Tử thần |

| Author: Carol S |

| Disclaimer: họ quyết định cuộc đời của mình |
| Category: romance, supernatural, open ending |
| Rating: T |
| Length: 3 chapters |
| Status: On-going |

| Summary |

Ta chỉ biết rằng, có một đôi lúc, ta và em đã từng yêu nhau...
Topic date: 27/06/2014

Đôi lời của đội ngũ Back up:

  • Dữ liệu sao lưu, chưa liên hệ được tác giả
  • Ảnh die toàn bộ
  • Đã sửa lỗi chính tả và giữ nguyên nội dung

Chapter 1. Sheer – con mèo lông xám

I
Mùa đông ở cái xứ này thật là tẻ nhạt.

Mà không, ở đây thì mùa nào cũng tẻ nhạt như nhau mà thôi.

Công việc cũng thật buồn chán; tựa hồ như cái sự buồn chán ấy lớn đến độ có thể giết chết người ta bất cứ lúc nào.

Mà, đã chết một lần rồi thì lần thứ hai sẽ như thế nào nhỉ?


II

6.00 AM. Một ngày làm việc mới bắt đầu, và vẫn vô vị như thế.

Gã hất tung cái chăn mỏng dính như tờ giấy bàn giao của Ban điều hành Tử thần, lầm bầm chán ghét cái công việc vớ vẩn mà gã đã tự buộc vào mình.

Khoác đại một cái áo choàng đen bằng vải dạ nặng nề trong tủ đồ Thứ Sáu, gã cầm theo cái kéo cắt chỉ Sinh Mệnh và khẩu súng ngắn rồi rảo bước ra ngoài. Ngoài ấy, cả bốn mùa cũng chẳng khác nhau là bao, với cái mùi lạnh lẽo đặc trưng của xứ Địa Ngục và bóng đen thừa thãi bao trùm mọi thứ. Cũng không đến nỗi yên lặng, vì đằng đó là Tòa án Địa ngục, nơi xét xử linh hồn; và những linh hồn mới khó ưa đó thì chẳng bao giờ chịu ngậm miệng lại. Họ khóc than, họ níu áo bất cứ ai để kể lể về cuộc đời của mình, không ngơi nghỉ một phút giây nào.

Họ làm cho những Tử thần như hắn phát mệt.

Nhà ăn nằm ở phía Tây của Cánh đồng Trừng phạt, nơi mà zombies nấu những món ăn kinh tởm nhất và chứng cứ nhăm nhe tống mấy thứ đó vào người bạn. Có ba nguyên tắc. Thứ nhất, phải đến nhà ăn thật sớm nếu không muốn bị trét đủ thứ vào người. Thứ hai, phải ngồi ăn trong im lặng nếu đi muộn. Thứ ba, không được đập vỡ sọ zombies trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Zombie là một giống loài dị thường, hay nó là đội quân của Hades sai lên để điều chỉnh cán cân dân số. Và sau đấy, đến lượt Tử thần thu dọn bãi chiến trường với đủ các thể loại linh hồn bay vật vờ trong không khí.

Bữa ăn như mọi khi với rau đã chuyển màu và thứ gì đó màu nâu xỉn không làm hắn bận tâm nhiều lắm, vì đố mà kiếm được thứ gì tươi ngon ở cái chốn này với nguồn ánh sáng nhân tạo xanh lét.

Thần Chết có công việc tương đối nhẹ nhàng, chỉ việc cắt chỉ Sinh mệnh và áp giải linh hồn đến Tòa án là xong. Mỗi người có 5 năm nhiệm kỳ, làm xong thì biến đi đâu cũng được. Một số người may mắn được làm Thẩm phán, còn lại làm Cai ngục, hay vào ban Điều phối. Một số người không có nhu cầu thì được nghỉ hưu, hoặc đầu thai kiếp khác. Sau cùng, khi mà đã chứng kiến nhiều kiếp người ngắn ngủi như thế rồi, chẳng ai còn có ý định đầu thai nữa.

Ở phía Đông, nơi mà mặt trời bắt đầu công cuộc phô trương thanh thế, có một dãy thang máy nối với Trần gian. Thang máy của Tử thần là thang dạng hộp, của zombie là dạng ống, rồi thang của Hades, thang của các ban ngành Địa phủ. Gã thong thả bước vào cái hộp ấy, nhấn cái nút duy nhất trên bảng điều khiển, rồi vừa lật lật cái sổ linh hồn vừa im lặng lắng nghe tiếng than khóc vang lên. Hades thật lắm chuyện, suốt ngày đổi nhạc thang máy mới.


III

Cái khâu cắt chỉ Sinh mệnh thực ra khá rắc rối. Ban điều phối ghi nguyên nhân và thời điểm tử vong trong tờ record, và nhiệm vụ của gã là làm sao để nạn nhân chết đúng như thế.

Nó phân theo đúng trường hợp, trường hợp này thì làm sao, trường hợp kia thì thế nào…Tử thần tập sự phải qua một khóa đào tạo và một bài kiểm tra năng lực thì mới được làm Tử thần chính thức, có quyền hành, có lương, có trợ lý.

Ngay đây, ở trang 56 của quyển Death Note là hình một người đàn ông trông có vẻ đau khổ, ở dưới ghi: Charles Duncane, 62, tai nạn giao thông, sáng 7h35’27” Gã kêu lên một tiếng, rồi bật cái rada hình con cú để tìm xem ông ta rốt cuộc ở cái chỗ khỉ ho cò gáy nào.

Có vẻ như là ông cụ đang cố gắng sang đường ở một ngã tư đông đúc. Gã bay đến, cố gắng khơi gợi một sự thiếu kiên nhẫn trong trí óc một người lái xe có ánh mắt thất thần, và cố làm cho Charles bước xuống đường. Đường xá NY vào cái giờ đi làm này thật tệ, với đủ thứ xe cộ và khói bụi. Nếu muốn qua đường, cấm tiệt đi qua giữa làn xe, mà phải đi cầu thang bộ ở dưới hầm.

Một chiếc xe lao đến, đâm ngang thân người đàn ông xấu số. Mắt ông mở to, nhuốm vẻ kinh hoàng cực độ.

Chiếc xe phanh kít lại, người tài xế lao ra, chết trân trước cảnh tượng trước mắt.

Dòng máu đỏ tươi quý giá phun ra từ ngực ông, chảy tràn xuống con đường nhựa lạnh lẽo.

Gã thấy có cái gì hơi gợn gợn lên trong lòng, mặc dù làm Tử thần được khá lâu rồi nhưng gã vẫn chưa thể nào quen được với những cảnh tượng như thế. Thở hắt ra một cái, gã niệm thần chú, lập tức một sợi dây màu đỏ xuất hiện trên ngón tay út của người vừa nằm xuống. Còn khoảng hai hay ba phút nữa người kia mới chết. Thấy vậy, gã liền phù phép cho một người gần đó gọi điện thoại cho cấp cứu và cảnh sát.

Cuối cùng, gã vẫn làm việc tốt, từ trước tới giờ vẫn thế. Chỉ là, gã không thể chịu đựng được sự thật rằng mình vừa kết thúc một cuộc đời theo cách dã man như vậy.

Gã theo người đàn ông đang hấp hối lên xe, nhẹ nhàng nâng sợi chỉ Sinh mệnh lên. Vào đúng 7h35’27” hắn cắt phụt sợi chỉ đỏ mỏng manh, nhẹ nhàng khép mí mắt ông cụ, và ra hiệu cho linh hồn ở gần đấy đi theo mình.

Ông cụ lưỡng lự, trân trối nhìn cái xác còn vương hơi ấm của mình với vẻ xót xa kì lạ. Gã đeo còng vào tay ông, rồi giật nhẹ bàn tay gầy gầy của ông về phía gã.

Hai con người, một già một trẻ, dắt díu nhau đi ngang qua đường.


IV

“Sheer, cậu được thăng chức, chúc mừng cậu.” Tay quản lí nói với vẻ mặt không cảm xúc thoáng chút ganh tị.

Gã cười xòa, ậm ừ cho xong chuyện. Cái tay quản lý này thì gã lạ gì, suốt ngày nịnh hót sếp trên và khinh thường nhân viên cấp dưới, thật không đáng cho gã nói chuyện.

Ở Địa ngục cũng có lắm loại người.

“Đây là phiếu mua Trợ lý mới, chỉ của riêng cậu, mua ở đâu cậu biết chứ?” Tay kia hỏi đểu.

“Biết, biết, không phải nói nhiều.” Gã gạt phăng đi.

Cửa hàng tiện lợi Hellie nằm ngay cạnh Trụ sở Tử Thần, với đủ các loại mặt hàng từ đồ ăn vặt đến thú cưng và đồ dùng cho công việc. Theo ý kiến của gã, cái tên Hellie nghe khá là nữ tính và đã giảm bớt phần nào sự lạnh lẽo của từ gốc Hell. Đa số mọi người đều cho rằng, Hades cố tình sỉ nhục Tử thần khi đích thân đặt tên cho cái cửa hàng đó và đặt nó ngay cạnh Trụ sở.

Hades là ông già quỷ quái thích đùa dai và gã thì không ưa ông ta cho lắm, mặc kệ chuyện ông ta là sếp cực cực lớn. Thêm nữa, ông ta đặc biệt khoái mèo, chỉ riêng điều này đã đủ biến chất rồi.

Cáu kỉnh bước vào bên trong, gã đi thẳng ra quầy thu ngân, ném cái tờ mua hàng kia xuống và nói với bà cô bán hàng: “Tôi muốn có một trợ lý mới, phiền cô lấy cho.”

Quy tắc là, không Tử thần nào được chọn trợ lý. Tất cả mọi thứ đều được quyết định bởi Hades qua trò bốc thăm trúng thưởng, một cái trò rõ là dở hơi và điên khùng được ông ta phát minh ra trong những ngày ly thân với Persephone.

Medusa – sau khi nghỉ hưu đã quyết định mở một tiệm tạp hóa và được Hades chấp thuận ngay lập tức. Ngay lúc này đây, cô ta tỏ ra rất bực bội vì bị xen ngang giữa chừng, lại lưu luyến nhìn cái tivi nhỏ đặt trên kệ sách – đang có đoạn nam chính và nữ chính lăn qua lăn lại – rồi trừng mắt nhìn gã Tử thần vô duyên.

Khi đi vào sâu bên trong, cô ả gây ra hàng loạt tiếng đổ vỡ và một đống các tạp âm quát tháo, rồi quay trở lại với một cái hộp lớn thắt nơ màu xanh biển. Đằng sau lớp giấy kính trong suốt, một cô gái có làn da trắng toát và mái tóc đen huyền đang bình yên nằm ngủ.

Medusa hắng giọng đọc thông tin trên bìa hộp: “Keil Sandara, mất năm 22 tuổi, người Anh. Trước khi mất làm nhân viên của một công ty thiết kế.” Ả liếc mắt về phía gã, như thể gã thật là thừa thãi trong mắt mụ.

Gã cứng nhắc gật đầu, bê cái hộp ra ngoài rồi phù phép cho nó tự nâng lên và bay theo gã. Medusa nói với theo: “Tháo nơ ra là hoạt động được rồi đấy! Mà, lần sau đừng đến vào lúc ta đang xem phim rõ chưa? Nam chính với nữ chính hôn nhau xong rồi kìa, bồi thường đi!!!”

Nói về một khía cạnh nào đó, ả ta cũng biến thái ngang ngửa Hades.

Phòng trọ của gã là do Trụ sở cấp cho trong vòng 5 năm nhiệm kỳ, ở một mình thì không sao chứ hai người thì chắc chắn là không đủ. Gã bước vào giữa gian phòng, khóa hết tất cả các cửa lại và đứng trong một cái vòng tròn có ngôi sao sáu cánh ở giữa do gã tự vẽ. Thông thường thì Trụ sở không cho tự mở rộng thêm phòng, nhưng tay quản lý đã nhắn với gã là hoàn toàn được khi có thêm trợ lý.

Gã niệm thần chú, thứ ánh sáng màu xanh lét lóe ra từ cái vòng gã đang đứng, chút một chút một tràn ra khắp căn phòng. Một lát sau, luồng ánh sáng ấy yếu đi rồi tắt lịm. Và gã thấy, bên cạnh phòng của gã đã có thêm một cái phòng mới nho nhỏ, có gắn biển đồng bên trên – đề tên Keil.

Gã lúi húi tháo sợi dây màu sapphire, nâng cái nắp hộp lên và khẽ nói: “Keil, bắt đầu đi.”

Hàng mi đen huyền của cô gái khẽ lay động, rồi Keil mở to hai mắt của mình và bước ra khỏi cái hộp. Cô mặc đồ công sở giản dị, tóc để buông và thắt lại ở gần đuôi với một cái nơ màu xanh biển. Sắc mặt cô trở nên tươi tắn hơn, và đôi mắt cũng đã có thần hơn một chút. Chưa một lần trong đời, hắn nhìn thấy một cô gái xinh đẹp đến nhường ấy.

“Tôi phải gọi ngài là gì đây?” Keil lịch sự hỏi. Gã ngẫm nghĩ một lúc, như thể đang chọn lựa giữa hàng ngàn cái tên khác nhau, và nói: “Sheer. Hy vọng chúng ta có thể hợp tác tốt.”

Keil không nói gì, nhưng trong đôi mắt màu xám tro kia ánh lên vài tia sáng vui mừng.


V

Keil là một cô gái trầm lặng.

Gã hoàn toàn hài lòng với một cô trợ lý như thế, thầm cảm ơn Hades vì một lý do nào đó đã không chọn bừa cho gã một người vụng về kinh dị. Dù gì đi nữa, gã cũng phải cảm ơn thần Số mệnh vì đã nối cho gã một đoạn chỉ tốt đẹp như vậy, chứ không thể nào mà nhờ cả vào Hades được.

“Một tách Earl Grey chứ?” Keil nâng ấm trà màu trắng sứ lên và rót thứ chất lỏng thơm nồng vào một cái tách.

Gã ậm ừ trong cổ họng, đưa tay đón lấy nó từ tay cô trợ lý và nhấp một ngụm nhỏ. Không thể phủ nhận là Keil pha trà rất ngon, và từ ngày cô xuất hiện thì gã đã biết khái niệm “ăn” viết như thế nào. Bình thường, gã hay ra Hellie và tậu về một đống đồ ăn vặt mà không thèm nhìn nhãn mác, cất mấy gói ở dưới gối, giấu mấy gói ở ngăn kéo bàn làm việc, thi thoảng móc ra một viên Alpenliebe dâu sữa đã quá hạn mấy tháng từ một cái túi áo trong. Đối với gã, ăn chỉ là một bước nhỏ để phục vụ cho việc tồn tại để làm việc, và đã là nhỏ thì không cần quan tâm nhiều lắm.

Keil thì khác. Mặc dù cô ấy nấu ăn không giỏi và mỗi bữa gã đều phải cố gắng mà ăn hết đống trứng rán, canh trứng, trứng hấp thịt…kinh khủng của cô ấy, thì đồ Keil nấu vẫn đỡ hơn đồ ăn nhà bếp làm. Thường thì cô ấy sẽ dùng ánh mắt áp bức người khác để kéo gã ra của hàng tiện lợi của Mer và xách đồ cho cô ấy.

Thì đã nói, trầm lặng không có nghĩa là hiền lành.

Đổi lại, cô ấy pha trà rất ngon. Cô ấy có thể pha Assam, Earl Grey hay Deejing với một thứ đam mê hoàn hảo mà ít người có được. Keil sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy, từ cái phòng lộn xộn của gã đến cái bếp mốc meo chưa được đụng đến lần nào.

Mỗi trợ lý đều có thể biến hình tùy thuộc vào hoàn cảnh và mệnh lệnh của chủ nhân. Thường thì lúc đi công chuyện, Keil đều sẽ biến thành một con mèo và ngoan ngoãn ngồi trên vai gã.

Không phải màu đen như con mèo Địa ngục, mà là một con mèo màu xám trầm lặng và tận tụy.

Keil rất được lòng mọi người, từ Medusa suốt ngày khinh bỉ gã đến tay quản lí hay lấy cớ chọc tức gã – đều tôn trọng cô ấy và hay hồ hởi hỏi han. Nhờ thế, cô ấy dễ dàng kiếm cho gã những việc nhẹ nhàng mà không làm gã quá kinh hãi, ví như dẫn dắt một bà cụ đã mất trong thanh thản.

Duy chỉ có một điều, Keil rất thích vẽ lên mọi đồ vật trong nhà gã. Hôm rồi, gã tá hỏa nhận ra Keil đã dùng sơn móng tay vẽ cánh hoa anh đào lên tấm gương trong nhà tắm, rồi những chiếc lá nhỏ tươi xanh mướt ở trên bức tường trắng toát trong phòng khách.
Keil thường xuyên mang cây về nhà, phải đính chính là vẫn có thể trồng cây ở dưới Địa ngục, nhưng mà loại cây duy nhất có thể trồng được là hoa sứ đá – được làm từ xương người chết. Không biết Keil đã làm căn hộ của gã trông nữ tính đi bao nhiêu, chỉ biết là từ đó gã không bao giờ dám mời ai đến nhà nữa.

---End chapter 1---

Chapter 2. Keil – những cơn ác mộng

I

Tôi không còn nhớ mình đã chết như thế nào từ khi lội qua dòng sông Styx, cái duy nhất tôi còn nhớ là vị tanh nồng của máu và ánh sáng xanh lét của chiếc đèn anh cầm.

Tôi kéo vạt áo anh, nức nở hỏi: “Anh là ai? Anh đưa tôi đi đâu thế này?”

Anh khẽ cười, lắc lắc đầu, nhưng không gỡ bàn tay tôi ra. Anh chỉ nói, anh tên Sheer.

Người cai ngục nói với tôi rằng, tôi thật là có phúc mới được Sheer dắt xuống đây, anh ấy là Tử thần tử tế nhất trong đám Tử thần.

Tôi vẫn còn nhớ mang máng, hồi ấy anh trông như thế nào, với đôi mắt đen huyền và mái tóc bạch kim trắng như làn khói mảnh. Những tưởng Tử thần là những kẻ xấu xí lắm, nhưng rồi tôi mới thấy anh đẹp đến nhường nào.

Kí ức chợt biến đổi.

Người quản giáo hà khắc nói với tôi rất nhiều điều, thế rồi trước mắt tôi bỗng tối sầm lại, cả cơ thể chới với như rơi vào vực thẳm. Tôi không thể làm gì. Cảm giác đó giống như khoảnh khắc déjà vu vậy, nó khó chịu vô cùng.

Tôi không biết tôi đã mê man như thế bao lâu.

Chợt tôi nghe có một giọng nói, Keil Sandara, mất năm 22 tuổi, người Anh. Trước khi mất làm nhân viên của một công ty thiết kế.

Và rồi tôi nghe thấy giọng anh, không lẫn vào đâu được cái giọng Đức đặc biệt ấy.

Anh nói, Keil, bắt đầu đi. Và tôi nghĩ, đã đến lúc phải tỉnh dậy rồi.

Anh vẫn là anh năm đó, với mái tóc bạc lẩn khuất như màn sương, nhưng cái nét tươi vui ở anh đã không còn nữa. Sheer trông già đi, đôi mắt anh nhuốm màu hoài niệm. Anh không cười nhiều nữa, và thường hay nói những câu cụt ngủn.

Mặc dù tiếp xúc với anh chưa quá 10 phút, tôi vẫn mơ hồ nhận ra rằng, anh đã không giống như ngày xưa nữa.

Tôi không tin vào kiểu tình yêu sét đánh, và tôi cũng không đủ chắc chắn để khẳng định rằng cái tình cảm ấy có phải là yêu hay không. Tôi cũng không biết anh đã trải qua những gì, cũng không biết anh đã sống ra sao; nhưng tôi vẫn rất muốn anh trở nên vui vẻ như lần đầu hai chúng tôi gặp nhau, với tiếng cười thực sự ấy.

Tôi là kiểu người muốn làm cho người khác vui, chẳng vì lý do gì, chỉ đơn giản là vui thôi. Tôi không nhớ về cuộc sống trần thế của mình từ khi ngâm chân trong dòng sông Âm phủ, nhưng tôi vẫn có thể cảm nhận được những nỗi đau trong từng cơn ác mộng vây lấy tôi mỗi tối. Tôi chỉ biết, trước kia mình từng rất đau khổ, vậy thôi.

Trong phòng anh treo bức chân dung của một người con gái.

Mỗi lần vào đó dọn dẹp, tôi đều tránh nhìn vào gương mặt cô ấy, mỗi lần nhìn vào đó tôi đều cảm thấy rất đau đớn, hệt như khi những cơn ác mộng trở về vậy.

Tôi đoán, Sheer cũng cảm thấy như thế. Cảm giác bất lực khi níu kéo một thứ gì đã không còn là của mình nữa. Anh bảo tôi, người trong tranh là người yêu một thời của anh, nhưng rồi chị ấy đã đi rồi, đi không về nữa.

II

Tôi thích vẽ, và Sheer hay phàn nàn về việc tôi vẽ lên gương hay tủ của anh. Nhưng chỉ thế. Không hơn.

Anh và tôi trừ những lúc đi thu thập linh hồn thì không trò chuyện với nhau nhiều lắm, họa chăng chỉ là câu nhờ nấu bữa tối rồi mang lên phòng hộ anh mà thôi.

Mọi việc vẫn thế, vẫn bình yên như bao ngày, cho đến khi tôi phát hiện ra anh hút thuốc.

Tôi không cầm lòng được khi nhìn thấy bờ vai anh run lên trong từng đợt gió, cũng chỉ là vì anh không muốn hút trong phòng tại sợ ảnh hưởng đến tôi.

Tôi nghĩ, anh đã len lén nhỏ một giọt lệ trong lúc tôi quay người đi.

Hôm ấy, Sheer nói với tôi rất nhiều.

Trước khi lội qua sông Styx, anh đã xin Tử thần lúc ấy cho giữ lại một kí ức. Hồi đó, luật lệ chưa quá hà khắc như bây giờ, và người đó đã đồng ý. Anh nói, đó là kí ức cuối cùng của anh và cô gái ấy, khi máu anh tuôn xối xả trên mặt đường nhựa nóng rát của NY. Và chị ấy, đã khóc ngất đi.

Anh đã mãi mãi dừng lại ở tuổi mười bảy.

Hai năm sau, anh gia nhập Trụ sở Tử thần, trở thành một Tử thần tập sự lóng ngóng theo chân huynh trưởng đi thực tập. Tại đó, anh nhìn thấy chị ấy – với đôi mắt đờ đẫn của đời sống thực vật. Người ta nói với nhau rằng, chẳng bao lâu sau khi anh mất thì chị ấy thành ra như thế.

Chị có thể đã mãi mãi dừng lại ở tuổi mười chín.

Từ hôm ấy, những cơn ác mộng cứ ùa về bên anh. Sheer không thể xóa đi kí ức kia được nữa, vì như thế có nghĩa là anh đã thú tội và cả anh lẫn người kia đều sẽ bị trừng phạt. Anh không muốn, vì một phút yếu lòng mà khiến người khác khổ cực.

Và như thế, anh không còn giống như xưa nữa.

Anh già hơn, ít nói hơn và khép kín hơn. Anh không còn là Sheer của ngày hôm qua nữa, mà ngày hôm qua đó sẽ mãi mãi không tìm lại được.

III

Sheer dẫn tôi đến thăm Alice, sau từng ấy năm khủng hoảng và chị thì vẫn chưa có tiến triển gì mới.

Chị ngồi đó, trong căn phòng ngập nắng mùa hạ, khuôn mặt vẫn toát lên vẻ bình yên như ngày nào Sheer nói. Đôi vai anh run rẩy trong ánh sáng chói lòa, anh lẳng lặng đưa quyển Death Note và cái kéo Sinh mệnh cho tôi rồi bay ra ngoài hành lang bệnh viện.

Cuốn sổ lật mở trang 103, nơi ảnh Alice được in ngay ngắn như một lưỡi dao cứa vào trái tim anh.

Tôi không thể làm được gì hơn, lệnh là lệnh, không có chuyện trễ nải. Mấp máy câu xin lỗi, tôi cầm lấy sợi chỉ mảnh buộc vào ngón tay Alice, cầm kéo cắt một nhát khô khốc.

Chị ra đi vào một ngày nắng ấm, trên môi vẫn còn vương nét cười.

Sheer đang trầm ngâm nhìn ra ngoài cửa sổ, hai hàng nước mắt khẽ khàng chảy dọc hai bên gò má. Tôi thấy sống mũi mình cay cay, nhẹ nhàng tiến đến gần anh, đặt tay lên vai anh.

Và tôi thấy mình cũng khóc.

Trong màn nước mắt, tôi nhớ mình nói với anh như thế này: “Chết cũng là một giải thoát. Chẳng lẽ anh muốn chị ấy cứ như vậy mãi sao?” Sheer im lặng, nước mắt vẫn lặng lẽ tuôn rơi. Tôi biết, anh đã cố kìm chế, nhưng rồi anh đã không thể chịu đựng lâu hơn được nữa.

Sau ngần ấy năm, khủng hoảng đủ rồi.

“Cám ơn em, vì câu nói đó.” Sheer khẽ nói.

Cảm giác nhìn người mình thương yêu trút hơi thở cuối cùng thật không mấy dễ chịu, nhất là khi Sheer vẫn còn đang như thế. Nhưng rồi, không ai có thể chống lại dòng chảy tự nhiên, không còn cách nào hồi sinh người chết.

Sheer đứng đó, trong ánh nắng chiều muộn chảy tràn trên vai.

Chúng tôi về nhà khi trời nhá nhem, không ai nói với ai câu nào. Sheer cần được suy nghĩ về những gì đã qua, về việc buông tay và chấp nhận.

Tôi pha cho anh ấy một cốc sữa nóng với mật ong, và sau đó chúng tôi cứ ngồi mãi trên chiếc ghế bành bọc nhung mà không nói với nhau điều gì. Có thể là tôi đã thức trắng suốt đêm hôm đó, trong khi Sheer ngủ thiếp đi trên đôi vai gầy của mình. Anh đã dựa vào tôi mà ngủ như thế, và khoảnh khắc đó như kéo dài mãi mãi.

Tôi đã thực sự nghĩ chúng tôi cần nhau. Trong một khoảnh khắc, tôi thực sự đã nghĩ như vậy.

IV

Sheer đã khá hơn rất nhiều so với những ngày trước đó.

Anh nói nhiều hơn, cũng không khép kín như trước. Anh đã dần dần trở lại với cuộc sống trước kia, với sự ồn ào và ranh mãnh quen thuộc.

Có vẻ như anh sẵn sàng bước tiếp.

Nhiệm kỳ 5 năm của anh cũng sắp hết, và sau đó thì chúng tôi sẽ đường ai người nấy đi. Tôi sẽ được chuyển vào kho, lại chìm đắm trong giấc ngủ dài cho đến khi có chủ nhân mới; còn anh sẽ đi thật xa nơi này, đi thật nhiều nơi như lời anh vẫn nói.

Tôi bỗng cảm thấy buồn. Dù sao thì mấy năm qua tôi cũng đã nghĩ về anh như là một người quan trọng, và chúng tôi cũng đã chia sẻ nhiều thứ. Ý nghĩ phải đi làm tôi thấy gợn gợn trong lòng.

Những ngày cuối, tôi và anh trở nên lặng lẽ hơn. Tay quản lý bảo tôi có thể đi luôn nếu muốn, tại những ngày như thế Sheer sẽ được thảnh thơi mà thu dọn đồ đạc.

Thiết nghĩ, thôi thì đi luôn, chỉ sợ càng ở lại thì càng không dứt ra được.

Tôi sẽ nhớ Sheer, hoặc sẽ chôn sâu những kí ức về anh tại một góc khuất của con tim, nhưng rồi vẫn sẽ nhớ về anh. Nhất định sẽ không quên, kí ức về một người và một thời như thế.

Hôm ấy, Sheer phải lên Sở làm thủ tục gì đó, và đến tối anh mới về. Tôi cắn răng, thu dọn đồ dùng cá nhân, rồi đóng gói lại ở một góc. Tôi chưa muốn đi, tôi muốn đến một nơi trước đã.

Khu vườn ấy là khu vườn của Trụ sở, nơi chỉ trồng hoa sứ đá gai góc nhưng tôi vẫn thấy thân thương vô cùng. Tôi cũng đã trồng một vài cái cây ở trong đó, và bây giờ nó đã lớn bổng lên rồi.

Sheer hay nói tôi kỳ lạ, tại tất cả mọi người ở đây đều không thích cây cối, mà tôi lại si mê nó. Tôi không thấy điều đó có gì kì lạ, nhưng tôi thích nhìn những nét cứng rắn của hoa sứ đá, những góc cạnh không bao giờ khuất phục bất cứ điều gì. Giống như Sheer, anh có thể đau khổ hay dằn vặt, nhưng rồi anh sẽ lại ổn thôi.

Dạo gần đây, tôi luôn nghĩ về Sheer. Nghĩ về cái cách anh cười trong ánh nắng mùa hạ chói lòa, cách anh hậm hực liếc Medusa hay cách anh càu nhàu về Hades; những cái đó đều làm nên một thứ rất Sheer, một con người mới – hoàn toàn dứt khỏi hoài niệm quá khứ.

Anh, lại là anh ban đầu. Như khi hai chúng tôi mới gặp nhau lần đầu tiên ở dưới căn hầm ấy.

Tôi nghĩ Sheer hẳn đã quên mất mình, cũng phải, với một núi công việc như thế cơ mà…

Nằm dài ra giữa những bông sứ đá, tôi cố gắng lấp đầy lồng ngực bằng thứ không khí lạnh lẽo thân thuộc này, rồi lại so sánh chúng với mùi giấy thô ráp ở trong hộp, rồi thở dài.

Tuy không phải lựa chọn tốt nhất, nhưng rồi cũng sẽ nhớ về với một chút tiếc nuối.

Tôi nghĩ mình đã thích Sheer. Giống như hai linh hồn tìm thấy sự đồng điệu trong trái tim nhau rồi ngã vào lòng nhau từ lúc nào không hay. Yêu, nếu được định nghĩa là muốn làm cho người kia cười, muốn người kia được vui vẻ và quên hết âu lo, thì có lẽ tôi đã yêu Sheer.

Thật lòng.

Nhưng anh thì tôi không biết. Trái tim tôi đã chệch nhịp. Nhưng tôi không biết liệu đằng sau khuôn mặt ranh mãnh kia có là những cảm xúc như thế hay không, hay đơn thuần chỉ là những biểu cảm bình thường xa lạ-quen thuộc. Tôi sợ bị từ chối. Mặc dù Sheer sẽ thật ý nhị thôi, nhưng tôi vẫn sợ.

Tình yêu cao thượng nhất là tình yêu không cần phải khẳng định và trói buộc nhau trong những danh từ mĩ miều rắc rối. Ngược lại, đó chỉ là một thứ tự tôn ích kỷ và mong muốn khẳng định mình. Mong muốn lấp đầy khoảng trống cô đơn trong tim bằng một sự thay thế tạm thời.

Và khi sự thay thế đó đi rồi, trái tim lại sẽ một lần nữa nứt toang hoác.

---End chapter 2---

Chapter 3. Sheer – Keil – The last apology

I

Gã đẩy cửa, những tưởng sẽ thấy em lúi húi trong bếp; nhưng cái đáp trả lại gã chỉ là sự im lặng đến đáng sợ.

Keil đi rồi chăng?

Em đi mà không báo trước, thật chẳng giống em chút nào.

Gã đã thôi không nghĩ về Alice, cũng thôi tự trách móc mình. Thay vào đó, gã cố gắng nói nhiều hơn, cố gắng hòa nhập hơn; Keil vẫn muốn gã trở nên như vậy.

Bước vào nhà tắm, gã thoáng thấy những cánh hoa anh đào vẽ bằng sơn móng tay ở trên mặt gương trống. Là anh đào, chứ không bất cứ loài hoa nào khác.

Gã bỗng cảm thấy chới với như bị hụt chân xuống vực thẳm. Gã bỗng cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau.

Bỗng nhiên gã nhớ lại cái cách mà Keil ngủ gật trên bàn làm việc, cách mà em nhẹ nhàng khuấy khuấy tách trà mỗi khi căng thẳng; và con mèo màu xám lặng im ngồi trên vai gã.

Mới ngày trước đây thôi, gã vẫn còn nhìn thấy Keil, đứng bên khung cửa sổ ngập nắng mùa hạ mà sắp xếp lại đống giấy tờ chồng chất của gã. Đã có một cơn gió thổi qua, và em đã vô tình thả cho những tờ record bay khắp phòng.

Keil đứng đó, giữa những tờ giấy trắng, cả nụ cười của em cũng trở nên đẹp lạ lùng.

Gã chưa từng để ý Keil có nụ cười đẹp như thế nào, cũng chưa từng chú ý đến cái cách em pha trà, và gã đã suýt nữa thì bỏ qua một nhịp đập khác đi trong tim mình.

Gã đã từng lỡ mất Alice, nhưng lần này thì gã sẽ không để Keil đi mất.

Gã không quên, mặc dù Keil có lẽ đã nghĩ như vậy – rằng gã đã quên khuấy mất em trong bộn bề suy nghĩ. Nhưng sẽ là nói dối nếu nói gã thực sự quên – làm sao gã quên được bàn tay gầy guộc của em kéo kéo áo gã, làm sao gã quên được đôi mắt xám tro ầng ậc nước ấy. Gã chỉ tạm xếp nó vào một góc, nhưng không có nghĩa là gã đã quên.

Gã cố không tỏ ra quá yếu đuối, nhưng vẫn không chấp nhận được thực tế rằng em thật sự đã rời đi.

Nhưng.

Lúc gã đẩy cửa phòng Keil, gã biết, sự lo lắng của mình chỉ là thừa thãi.

Em nằm đó, chạy trốn trong giấc mơ của riêng em, trên chiếc tràng kỷ nhỏ đặt ở góc phòng. Bên cạnh em, một cuốn catalogue vớ vẩn đang mở tung, dán chi chít các loại note và đính kèm linh tinh.

Gã liếc thấy chiếc vali màu kim loại được đặt trong góc phòng, cảm thấy một thứ linh cảm kỳ lạ đang từ từ len vào trong tim. Em đã định đi, nhưng sau cùng em vẫn còn ở đây.

Nhẹ nhàng khép cánh cửa gỗ sồi, gã nghĩ phần nào lo lắng trong tim đã được trút bỏ.

II

Tiếng cọt kẹt từ cánh cửa gỗ kéo tôi từ giấc ngủ ngắn trở về thực tại.

Tôi nghĩ mình đã thấy Sheer, nhìn thấy mái tóc bạch kim của anh, nhìn thấy anh nhẹ nhàng gập quyển catalogue lại. Bỗng chốc, tôi cảm thấy lo lắng.

Ánh sáng mờ mờ của cây đèn ngủ cảm ứng làm tôi tỉnh táo hơn phần nào. Buộc lại mái tóc rối, tôi loạng choạng đứng dậy, mở cửa phòng. Giấc ngủ ngắn này làm tôi mệt mỏi hơn là tỉnh táo, bởi đầu tôi đau như búa bổ.

Sheer ngồi im lặng trên tràng kỷ, mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng không trống rỗng. Mí mắt anh cụp xuống sau cặp kính, phảng phất một chút nặng nề u sầu.

“Anh…có thể đưa tôi đi một nơi được không?” tôi ngập ngừng mở lời, phá vỡ khoảng lặng đáng sợ đang bao trùm căn phòng.

Sheer im lặng, mắt nhắm nghiền.

Tôi đã nói với Sheer, thực sự đã nói câu đó và đến cả tôi cũng hiểu đó là một lời tạm biệt. Và, anh im lặng, như thế. Giờ thì tôi căm ghét sự can đảm của chính mình. Tuyệt thật, tôi đã làm đau Sheer, điều đó còn tệ hơn việc tôi tự làm đau chính bản thân mình.

Sheer từ từ mở mắt, vẫn nặng nề như thế, và nói: “Ừ, được thôi.”

Sheer bay chầm chậm, đôi chân hờ hững lướt trên mặt đất. Còn tôi, vẫn là cái chỗ ngồi quen thuộc – một con mèo xám trên bờ vai anh. Anh cứ bay mãi như thế, như thể những thứ xung quanh chẳng thể làm phiền đến anh. Tôi bỗng cảm thấy phút giây này thật quý giá, và có khi tôi sẽ lại vùi mình trong những cơn ác mộng mà không thể đổi lấy một giây như thế này nữa.

Anh dừng lại ở một cánh đồng hoa sứ đá, nhẹ nhàng thả tôi xuống. Tôi xoay một vòng trở lại hình người, rồi chạy nhanh xuống cánh đồng kia, ngồi trong đám hoa lá trắng toát mà nhìn ngó quanh quất. Tôi vẫy vẫy anh, hét lên rằng tôi rất thích chúng.

Sheer chậm rãi bước đến gần tôi, lặng lẽ ngồi xuống, đáy mắt ánh lên niềm vui.

Trong một thoáng, tôi nghĩ anh đã cười.

Và đấy, anh cuối cùng cũng đã cười đấy thôi.

III

Tôi nghĩ Keil đã nói như thế này.

Em nói rằng em đã cố gắng chạy trốn, em đã có ý định bỏ đi. “Em không thể tiếp tục được nữa, vì cứ mỗi khi đối mặt với bản thân là em cảm thấy yêu anh thêm một chút…”

Em rõ ràng đã nói như thế.

Lần đầu tiên tôi biết những năm vừa rồi thực ra là gì. Giống như Hades đã cố tình để em đến đây, giống như là tuổi trẻ của tôi là để dành cho Keil, mặc kệ những ngày tháng sau có ra sao. Tôi muốn nói với Keil rằng tôi sẽ làm em hạnh phúc, sẽ làm em quên đi những cơn ác mộng dai dẳng, sẽ làm tất cả cho em…

Sau cùng, tôi chỉ nói: “Anh xin lỗi…”

Keil không có vẻ gì là ngạc nhiên, em ngắt lời tôi: “Chẳng có gì cả, em sẽ tự ổn thôi…”

Em sẽ không ổn. Tôi có thể nhìn thấy những giọt nước mắt lấp lánh nơi khóe mi em.

“Anh xin lỗi, vì đã để em một mình quá lâu.”

From Carol Anne, with endless love.
 
  • Like
Reactions: azurine