Topic Dân tục Đôn Hoàng

  • Thread starter Thread starter Dê Silicon
  • Ngày gửi Ngày gửi
  • Trả lời Trả lời 2
  • Lượt xem Lượt xem 672

Dê Silicon

Cột sống đã thảnh thơi | ω ✧) ノ
Thành viên BQT
09/04/2025
337
515
90
dan-tuc.1.webp
Chú thích: Dân tục - cách gọi tắt cụm từ phong tục dân gian
Sơ lược dân tục Đôn Hoàng

Dân tục Đôn Hoàng là văn hóa nghệ thuật trong lịch sử của Trung Hoa, mỗi một tập quán trong phong tục của nó đều là một môn nghệ thuật văn hóa. Thời trung cổ - đặc biệt là vào thời Đường, phát triển rực rỡ trở thành một phong tục nhân gian cho đời sau. Dân tục Đôn Hoàng đã kế thừa và phát triển dân tộc thượng cổ và trung cổ trước thời nhà Đường, sau đó lưu diễn lại ảnh hưởng đến phong tục thời cận cổ và dân tục thời cận cổ chính là kế thừa trên cơ sở này mới có thể phát triển.

Dân tục Đôn Hoàng thật ra là phong tục dân gian của Đôn Hoàng, Trung Hoa. Nhưng khái niệm “Đôn Hoàng” ở đây không chỉ gói gọn là khu vực một tỉnh ở Cam Túc nhỏ bé hiện nay, cũng không giới hạn là một thành, một quận. Đơn giản mà nói dân tục Đôn Hoàng ý chỉ là một số tập tục có tại một hoặc một số khu vực địa phương. Đồng thời nhấn mạnh tính địa phương với tính khu vực, tách rời với tính cộng đồng tưởng thông của dân tộc cổ Trung Hoa. Dân tục Đôn Hoàng có khái niệm rất rộng, đề cập đến tất cả hiện tượng, văn hóa dân tộc và thực tế nó được xem như một bản thu nhỏ của dân tục cổ đại Trung Hoa. Và một lần nữa nhắc lại, dân tục Đôn Hoàng không phải là dân tục riêng biệt của khu vực Đôn Hoàng.

Phong tục bói toán - bốc quẻ Đôn Hoàng

Bói toán là bộ môn quan trọng trong phong tục mê tín của dân gian Đôn Hoàng. Bói là phương pháp quan trọng của người cổ đại xưa dự đoán chuyện tốt xấu, họa phúc. Từ thời rất xa xưa con người đã biết dùng lửa để nung mai rùa, lấy đó làm dự đoán tốt xấu và gọi đó là bói.

Bói toán thời thượng cổ được lưu truyền rộng rãi với hai phương thức: Bói động vật và thực vật, động vật chính là dùng mai rùa - thực vật là dùng cây cỏ. Việc dùng mai rùa để bói lại được gọi là bốc, dùng cây cỏ để bói được gọi là vu.

Phong tục bói toán của thời cổ đại Đôn Hoàng trải qua hai chuyển biến quan trọng:
  • Một là chuyển biến về người - chuyển việc xem bói của quan lại có chuyên môn xem bói thành việc của những thầy bói ở dân gian.
  • Hai là chuyển biến của bốc - từ hình thái cổ xưa trở thành chiêm bốc tri thức hóa và được đa dạng hóa hơn trước. (Bói chim, bói thẻ, bói mộng,…)
Nổi bật nhất trong chuyển biến của bốc là phương thức bốc quẻ. Cái gọi là “quẻ” đơn giản là một loại phù hiệu ghi hình từ thời thượng cổ, tương truyền do Phục Hy sáng chế. Đối với bốc quẻ có hai loại: một nhờ thầy bói, hai là tự bói.
  • Nghi thức tiến hành bốc quẻ bao gồm: Lễ bói (thành tâm không bị ngoại vật quấy nhiễu) => Niệm Phật => Niệm chú.
  • Cách dùng: Trước tiên đem các (số) hào gộp thành một quẻ, sau đó lấy quẻ cuối.
  • Cách xem: Lấy tốt nhiều hơn xấu.
Mỗi lần bốc sẽ gồm ba phần:
  • Thứ nhất: Quẻ - đại biểu cho hình thức của quẻ.
  • Thứ hai: Yếu quyết bốc - tức lời quẻ.
  • Thứ ba: Luận quẻ - kết quả quẻ tốt hay xấu.
Khác với Dịch, toàn quẻ là ngang và có quy tắc phân định phù hiệu. Quy tắc tạo quẻ của Đôn Hoàng là trên ngang, giữa dọc, dưới ngang - và phù hiệu của quẻ bất kể tốt hay xấu cùng không có quy tác phân định. Điều này làm cho hàm nghĩa, thứ tự sắp xếp phù hiệu đối với từng người xem sẽ khác nhau và kết quả luận quẻ cũng hoàn toàn khác nhau, không có tính thống nhất nhất định. Luận quẻ lúc này sẽ không dựa vào phù hiệu mà dựa trên ý luận của người xem bói.

Phong tục xem tướng - sách tướng Đôn Hoàng

Xem tướng - một nhánh phát sinh của bói toán, là một phần trong hình pháp (một trong sáu loại “Số thuật”). Căn cứ vào tình trạng bên ngoài của vật thể khách quan, làm phương pháp đặc thù để phán đoán vận mệnh. Vật thể có thể là tự thân người hoặc là phẩm vật của thới giới khách quan.

Xem tướng là phương pháp quan sát hình dáng tướng mạo của con người từ đó dự đoán vận mệnh. Bao gồm các tướng: diện - mặt, thủ - tay, túc - chân, thân - dáng đi, thanh - giọng nói, nốt - nốt ruồi và cốt - xương.

Trong đó thịnh hành nhất là cốt tướng. Tập trung vào xương cốt, khung xương, hình thể và dáng người để luận đoán vận mệnh, khí chất, phúc họa của một người. Được xem là phần “gốc”, khó thay đổi, phản ánh bản chất và căn cơ sâu xa hơn cả da thịt, dung mạo bên ngoài.

Bên cạnh đó, còn có sắc tướng - căn cứ vào hình sắc của khuôn mặt để đoán vận. Việc xem sắc tướng đòi hỏi người xem tướng phải hiểu rõ tên gọi các bộ phận, vị trí huyệt vị trên gương mặt. Sắc tướng tốt xấu được phận định thành năm sắc: trắng - vàng - đen - xanh - đỏ, dựa vào đặc điểm, nhận định khoa học từ Trung y - nguyên nhân khiến cho sắc tướng được lưu hành và cường điệu hóa dần mang tính phong tục truyền thống.

Ngoài ra còn có phong tục: Dự báo tai nóng mắt nháy; Giải mộng thư; Các vu thuật với phong tục tình ái; Trừ tà; Cúng trăng non;… Tóm lại, Dân tục Đôn Hoàng chứa đựng một thời gian lịch sử lâu đời, là hình ảnh thu nhỏ của dân tục Trung Hoa, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Bao hàm các nội dung văn hóa muôn hình muôn vẻ, ảo diệu khó hình dung và có giá trị học thuật văn hóa rất cao.

Source: Tổng hợp
P.S: MN12CS
 
dan-tuc.2.webp

Cấm kỵ là quan niệm dân tục xuất hiện nhiều ở trong dân tục nguyên thủy. Cái gọi là “cấm kỵ” là chỉ đồ vật cấm chỉ của “thần thánh”, hoặc những thứ ô uế không nên tiếp cận, nếu không sẽ có năng lượng siêu nhiên trừng phạt.
  • Thời nguyên thủy, tri thưc nhân loại còn thấp kém, đối với những hiện tượng Trời - Đất - Vạn vật, họ đều cảm thấy kỳ lạ và không thể lý giải. Do đó, đối với mỗi một sự việc, sự vật xảy ra họ đều cảm thấy sợ sệt - cho rằng trong những hiện tượng đó có hàm chứa những thứ độc hại, nên nảy sinh ra nhiều loại cấm kỵ. Có thể thấy, cấm kỵ thực tế là những tập quán chịu sự chi phối của tự nhiên.
  • Cấm kỵ đầu tiên bắt đầu từ chế độ xã hội mẫu hệ, nội dung của nó biểu hiện ở hai phương diện. Một - cấm kỵ chỉ quan hệ với người thân (tức loạn luân). Hai - mở rộng phạm vi sùng bái đồ thờ cúng.
  • Đến thời kỳ chế độ phụ hệ, cấm kỵ lại phát triển thêm một bậc. Lấy đặc trưng của một số người đối với một số sự việc, sự vật thần thánh hóa - cho rằng điều đó là không thể xâm phạm.
  • Thời cổ, cấm kỵ là đặc trung bảo đảm an toàn cho xã hội, song song với việc bảo vệ quan hệ cân bằng ổn định xã hội mà hình thành nên phong tục, tự nhiên nảy sinh nên một loại hình thức cấm kỵ đơn giản. Các phong tục cấm kỵ lưu hành thông qua những quy định và nghi thức đơn giản - mộc mạc.
Đối với xã hội có tác dụng tích cực khống chế xã hội. Tất cả các cấm kỵ phát triển đều có tính giai cấp, từ “thôn dã - dân dã” đến trong giai cấp thống trị chính trị. Tức người thuộc giai cấp thống trị đều có thể đưa ra cấm kỵ, có thể trừng phạt người không thi hành, từ đó diễn hóa xây dựng thành luật lệ, pháp luật.

Một số phong tục cấm kỵ trong Dân tục Đôn Hoàng

1 - Cấm kỵ cắt áo:
Tháng ba mùa xuân vào ngày thân không cắt áo
Ba tháng mùa hè vào ngày dậu cắt áo xấu
Ba tháng mùa thu vào ngày mùi không cắt áo
Ba tháng ngày đông cắt áo xấu
Mùa thu cắt áo đại kỵ, vào ngày thân cực tốt
Ngày thân không cắt áo, nếu cắt áo không chết cũng xấu
….…...
Nguồn gốc cấm kỵ này xuất phát từ phong tục “cắt áo chọn ngày tốt - cắt áo cầu may” của dân gian và “chiếu theo tình cảm của bậc quân vương”. Bởi vì phong tục cắt áo này còn gọi là “Lễ Cửu tích”, chỉ có bậc đế vương hoặc đại thần thực hiện.

2 - Cấm kỵ của phụ nữ:
Không được mặc áo chồng
Sản phụ chưa quá 100 ngày, không được giặt áo cho chồng, đại kỵ
Không được khóc trước bếp
Không được cắt áo dưới ánh trăng
Không ăn cơm với bà cô, khiến sinh bất hiếu, sinh con bất hiếu
….…...
Bên cạnh đó, người xưa cho rằng - huyết nguyệt/thủy nguyệt (kinh nguyệt) của phụ nữ là vật bất tịnh, không sạch sẽ. Nếu phụ nữ trong những ngày này thực hiện việc cắt áo cho chồng sẽ được xem như là giết chồng, nếu họ ngồi hay chạm vào đồ vật nào thì vật đó cũng trở nên dơ bẩn, không sạch…

3 - Cấm kỵ cửa bếp:
Nơi bếp đặt giường, con cháu bất lợi
Bếp - giếng đối nhau, cãi cọ không tốt
Bếp - trời nhìn nhau, người chết bất lợi
Không nhờ người bên cạnh đắp bếp, người nhà hao tổn
….……
Do bếp đối với cuộc sống thường ngày có tác dụng quan trọng mà sinh ra tín ngưỡng thờ Táo Thần (Ông Táo), để coi sóc việc tốt xấu, phát hiện sai lầm của con người mà báo cáo lên Trời để xử trí. Chính vì thế mà những cấm kỵ này ra đời, vì người xưa cho rằng Táo Thần là người tượng trưng cho quyết định phúc họa.

4 - Cấm kỵ cánh cửa:
Cửa hướng Thanh Long, người không có lợi
Cửa hướng Huyền Vũ, người bị trộm cắp
Xà nhà hướng cửa, người đi lính tử nạn
Nước chảy cửa lớn, người nghèo bất lợi
….…...
Cấm kỵ này phản ánh cái nhìn cực đoan của dân gian với cửa, vì cửa có liên quan đến bệnh tật, phòng trộm, tụ tài,… nên người xưa cho rằng cửa có thần canh, gọi là Thần Cửa.

5 - Cấm kỵ liên quan ngày can chi và ngày cấm kỵ kiến trừ:
a - Cấm kỵ can chi:

Đây là cấm kỵ thần nhân - hình thái thiên can địa chi kết hợp, nhưng “cấm kỵ thiên can” và “cấm kỵ địa chi” hoàn toàn tách biệt nhau.

“Suy đoán cấm kỵ, Sửu không trồng cây, Đinh Hợi không làm ruộng, Mậu không trông cây, Mùi không tính tiền bạc với người. Ngày hạ chí không gọi phụ nữ.”

Đoạn cấm kỵ này cho thấy: Sửu - Mùi là địa chi, Mậu lại là thiên can, Đinh Hợi là can chi, hạ chí là 1 tiết khí trong 24 tiết khí. Điều này chứng tỏ cấm kỵ dân gian Đôn Hoàng đem thiên can địa chi, tiết khí, trung thiên văn học chia thành 5 cơ sở lý luận, khiến cho nội dung cấm kỵ phức tạp hóa. Nhưng nhìn chung các cấm kỵ chi làm hai: Cấm kỵ địa chi - những hoạt động liên quan đến xã hội; Cấm kỵ thiên can - chủ yếu từ hoạt động sinh hoạt cá nhân.

b - Cấm kỵ kiến trừ: chủ yếu là những cấm kỵ trị bệnh.

Cấm kỵ trong dân gian là một lĩnh vực quan trọng trong dân tục Đôn Hoàng, phản ánh sâu sắc thế giới quan và đời sống tinh thần của người xưa. Đó là cách họ thể hiện sự tôn trọng đối với tự nhiên và những hiện tượng chưa thể lý giải, đồng thời góp phần định hình nếp sống, phong tục trong cộng đồng. Những cấm kỵ này được hình thành từ niềm tin vào các hiện tượng siêu nhiên, từ các tập quán hằng ngày hay tín ngưỡng dân gian, dù đôi khi phi lý hoặc được cường điệu hóa, nhưng vẫn giữ vai trò nhất định trong việc ổn định đời sống và bảo tồn văn hóa truyền thống.
Source: Tổng hợp
P.S: MN12CS
 
33028782_7957495.webp

Bói toán, đầu tiên là do người cổ đại tin rằng con người có vận mệnh không giống nhau.

Mệnh vận gọi tắt là mệnh. “Mệnh vận” vốn chỉ khái quát nguồn sống của mệnh, xong lại bao gồm vận khí tạm thời.

Như nói về người thọ cao gọi là “trường thọ”, người chết yểu gọi là “đoản mệnh”, người có tiền của được coi là “mệnh phú quý”, người nghèo khổ thì xem là “mệnh hèn”, còn người chết ngẫu nhiên thì là “số trời đã định”. Nói về tình duyên thì đó là “trời xe duyên”.

Các hình thức tin tưởng vận mệnh có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội, cho nên người cổ đại càng thịnh hành việc xem số mệnh.

Quan niệm tin vào số mệnh lưu truyền từ đời Tiền Tần đến đời Hán, đã là nền móng cho phong tục bói toán. Nhưng phát sinh của phong tục này trải qua quá trình phát triển có diễn biến phức tạp, có một đặc trưng chủ yếu là phát triển phong tục xem vận mệnh cho người khác, bắt nguồn từ phong tục bói toán.
  • Thứ nhất: Thuật chiêm bốc là yếu tố thúc đẩy phát sinh phong tục bói toán.​
  • Thứ hai: Phát triển của tướng thuật cũng là nhân tố cho phòng tục bói toán, từ thuật chiêm bốc suy diễn đến thuật xem tướng.​
  • Thứ ba: Sự ra đời và phát triển của phương thuật can chi, ngũ hành, bốn mùa, năm phương, sinh tiêu (năm con giáp) là năm tư tưởng lớn hình thành nên thuật số mệnh.​
Trong đó:
  • Can chi: Bao gồm âm dương, sử dụng thiên can (10 can) kết hợp với 12 địa chi (12 chi) tạo thành lục thập hoa giáp (60 Giáp Tý). Dùng để can chi ghi ngày, dùng năm dương với năm âm để ghi năm.​
  • Ngũ hành: Cổ đại đem 5 nguyên tố cấu thành các loại vật chất là kim, thủy, mộc, hỏa, thổ. Để giải thích cho những nguyên tố cơ bản cấu thành tất cả vật chất.​
  • Bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Bốn mùa, mỗi thời có ba tháng, tháng thứ ba là tháng giao mùa, hết tháng giao mùa lại vào một tháng khác.​
  • Năm phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương.​
  • Sinh tiêu (năm con giáp): Dùng tên 12 động vật hợp ghép 12 địa chi để ghi năm sinh của người.​
Hình thức phát sinh chính thức của thuật xem số tương đối muộn, đều lưu hành sau thuật chiêm bốc, xem tướng, rồi sau đó mới phát triển ở thời Đường.

Thời sơ khởi có một số nhân tố là duy vật, các thành phần về sau tích cực phát triển dần dần nói liều về duy tâm. Lúc này nhân tố duy vật đương nhiên không tồn tại, tục bói số mệnh chính thức mang tính mê tín.

Đến thời Tống, thuật xem tướng số thành thục và chín muồi. Ở thời gian này thuật xem số có một khám phá lớn của đại sư Từ Tử Bình, đó là dùng ngày tháng năm sinh của người làm Tứ trụ, Bốn tổ hợp “can chi năm, tháng, ngày, giờ”, phối hợp thành “Bát tự” để suy đoán mệnh vân tốt xấu của con người.

Bát tự của xem số mệnh có ảnh hưởng rất lớn, từ đó về sau đều gọi việc xem số mệnh là xem Bát tự, rồi đem phương pháp xem số sáng tạo của Từ Tử Bình gọi là “Thuật tử bình”.

Tóm lại, thuật xem số bắt nguồn từ đời Đường, phát triển phân tích từ thời kỳ sơ khởi đến thành thục. Ban đầu dùng phép suy đoán tính mệnh của Đôn Hoàng làm mốc khởi điểm. Về sau ở thời kỳ thành thục dùng “Thuật tử bình” làm kết quả.

Source: Tổng hợp
P.S: MN12CS
 
Sửa lần cuối: