Tôi không thấy anh sáng nay
[Fiction]
Lấy cảm hứng từ bái hát cùng tên của Hà Anh Tuấn

Author: Canceria/Tằm
Genre : Slice of life
Length: One-shot
Rating : [K+]
_______________
[Fiction]
Lấy cảm hứng từ bái hát cùng tên của Hà Anh Tuấn

Author: Canceria/Tằm
Genre : Slice of life
Length: One-shot
Rating : [K+]
_______________
Tám giờ mười phút sáng, ngày bình thường. Người đi đường vẫn nối nhau xuôi ngược, phố phường vẫn tấp nập huyên náo. Nắng đầu hè không gắt, bầu trời thành phố xanh ngắt vài gợn mây. Một ngày thích hợp để nghỉ ngơi, thư giãn.
Tôi kẹp tờ báo Pháp Luật vào bên nách, chỉnh lại chiếc mũ nồi sọc ca rô đen trắng con gái tôi tặng, đẩy cửa bước vào quán quen.
Tôi thích quán cafe này, mặc dù đối với cà phê tôi không phải một người có hứng thú. Chỉ đơn giản là vào một ngày nọ, khi đôi chân lang thang đã đến lúc mỏi, bạn bất chợt dừng lại nơi đây, gọi bừa một món đồ gì đó, và chậm rãi thưởng thức chúng trong khoảng lặng của riêng mình.
Chị chủ quán như thường lệ tươi cười chào tôi. Đó là một người phụ nữ ngoại tứ tuần, gương mặt chẳng xinh chẳng xấu, không béo không gầy, không cao cũng không thấp,ngoại trừ tấm lưng dài quá cỡ còng hơi sớm so với tuổi, chị chàng nói chung không có gì ấn tượng. Tôi chào lại chị, và theo thói quen bước lên tầng hai, tìm đến một bàn gần cửa kính. Đây là chỗ ngồi ưa thích của tôi, ở quán này, mỗi sáng, lúc tám giờ mười phút.
Tôi ngả lưng vào chiếc ghế tựa điệu đà, để mùi thơm nồng đặc trưng của một quán cà phê ập vào mơn man cánh mũi. Saxophone chơi một bản nhạc bất hủ mà tôi đã nghe hàng trăm lần vẫn không nhớ được tên. Bàn bên, duyên dáng cắm một bông hoa đồng tiền.
Đó là chỗ ngồi quen thuộc của anh ta.
Tôi không biết anh ta đến quán từ bao giờ, nhưng lần đầu tiên tôi lạc bước nơi này, anh ta ngồi đó, lọt thỏm trong chiếc măng tô đen hơi sờn, phì phèo một điếu thuốc mà từ góc tôi ngồi không trông rõ nhãn hiệu. Và chậm chạp. Ba năm nay, tám giờ mười phút, những hạt cà phê đen tròn vẫn tí tách nhỏ giọt.
Anh ta luôn luôn ở đó, như một món đồ cổ tô đậm lên cái vẻ cổ điển đầy lãng mạn nơi này.
Chưa bao giờ tôi thấy anh ta nói chuyện. Anh ta chỉ ngồi yên đó, ù lì đắm chìm trong một thế giới nào đó tôi không hiểu, đôi mắt quầng chẳng lúc nào rời khỏi tách cà phê, như thể anh ta chẳng có việc gì để làm, ngoài việc đếm từng giọt.
Từng giọt.
Nhưng sáng nay tôi không thấy anh ta.
Có lẽ anh ta có công việc đột xuất gì đó …
***
Sáng nay, cô nhân viên chạy bàn không thấy ông khách thường mặc áo măng tô bước vào quán lúc tám giờ kém mười, dừng lại trước quầy tính tiền chừng mười phút để chơi một bản nhạc bằng cây ghi ta treo cạnh đó như một vật trang trí. Chơi đàn xong anh ta lẳng lặng lên tầng hai, ngồi vào cái bàn bên góc trái, bên dưới bức tranh phố cổ bằng gốm Phù Lãng, nơi bông hoa đồng tiền mềm mại uốn mình.
Anh ta không bao giờ gọi đồ, nhưng chị chủ sáng nào cũng bảo cô mang cho anh ta một tách cà phê đen không đường, và một bao thuốc lá 555. Lúc anh ta về, luôn để lại hai điếu chưa hút, và một số tiền nhét trong vỏ bao. Có khi thiếu, có khi thừa, song chị chủ không bao giờ đếm số tiền ấy, cũng không xếp nó vào hộc tiền trong quầy thanh toán, chỉ lẳng lặng ném món tiền nọ vào một ngăn tủ riêng.
Có một lần nọ, cô đánh bạo hỏi chị chủ quán về người khách kì lạ kia, nhưng chị chỉ trả lời mập mờ không rõ:
– Khách quen !
Sự tò mò chưa thỏa mãn, cô còn muốn hỏi thêm, nhưng chị ta đã lờ đi. Trên bờ môi khô nẻ khẽ cong lên nụ cười héo hắt, đôi mắt sụp mí chợt đưa ánh nhìn ra ngoài phố.
Phố. Hà Nội. Ngày chông chênh.
…
Có những câu hỏi, người ta không muốn trả lời. Có những chuyện đời, người ta muốn giấu giếm. Cô không hỏi nữa. Vì anh ta … chẳng ảnh hưởng gì tới ai, ngoại trừ để lại quá nhiều dấu hỏi.
Có lẽ anh ta có chuyến đi xa.
Hai người khách bước vào, gọi hai cà phê sữa, rồi ngồi tại chiếc bàn có bông hoa đồng tiền. Là một đôi tình nhân. Chị chủ gọi cô đi bê đồ. Hình như, hôm nay, mí mắt của chị ấy sụp xuống nhiều hơn ngày thường.
Cô không biết …
… Chỉ biết sáng nay cô không thấy anh ta.
***
Sáng nay, mấy ông xe ôm hay ngồi ăn xôi ở quán bà Hằng đầu ngõ không còn thấy anh ta ra khỏi nhà vào lúc bảy giờ ba mươi lăm phút, đông cũng như hè, rụt cổ trong chiếc áo măng tô đen dường như không bao giờ giặt, ho khạc rất to, rồi nhổ một bãi đờm xanh lè ra cái bãi chó ỉa cuối ngách.
Bà Hằng đã bán xôi ở đây đến năm bảy năm nay, chưa khi nào thấy anh ta lệch giờ. Nhiều nhà trong xóm, thậm chí còn chỉnh đồng hồ theo mốc giờ anh ta ra ngõ. Nhà anh ta – vàng ệch và im lìm trong một xó vắng người, đối diện với cái cột đèn cao áp chình ình giữa hẻm. Từ ngày anh ta chuyển về đây, hàng xóm chưa bao giờ thấy có ai khác ra vào căn nhà đó, kể cả những ngày lễ Tết. Người lớn lướt qua, ném cho nó một cái nhìn tò mò, rồi lại bàng quan đi thẳng. Còn trẻ nhỏ, chẳng đứa nào dám lảng vảng quanh đó.
Không ai biết anh ta tên là gì, sống ra sao. Không bao giờ thấy anh ta đi làm. Hoặc giả anh ta có đi làm thì mọi người cũng chẳng biết. Lẽ dĩ nhiên thôi, vì chẳng ai biết gì về anh ta cả. Vả lại, họ không cảm thấy cần phải biết.
Hai giờ đêm qua, nhà thờ Thiên Chúa gần đây đánh kẻng.
Sáng nay họ không còn thấy anh ta.
***
Có lẽ anh ta đi rồi chăng ? Rời xa nơi đây, bỏ lại đằng sau những câu hỏi không lời đáp, bỏ lại cuộc sống xô bồ chốn này, bỏ lại những con người này ? Anh ta đi đâu ? Đi đến đâu để anh ta chẳng còn là kẻ kì lạ ? Đi đến đâu để người như anh ta có thể hòa mình ? Đi đến đâu để những năm tháng sau này chẳng còn phải ngồi đếm những hạt thời gian vô nghĩa ?
Tôi không biết.
Và có lẽ, anh ta cũng chẳng muốn ai biết.
Từ dưới nhà, giọng chị chủ hắt lên, thanh điệu vang, hơi khàn, chẳng mang chút sắc thái cảm xúc :
– Hai cà phê trứng vào bàn số hai đê em ơi !
…
Tôi ngơ ngẩn nhìn ra phố. Nắng xanh tràn qua cửa sổ. Bông hoa đồng tiền sắp héo bàn bên ủ rũ đón ánh sáng. Gạt tàn bên ấy trống không.
Tôi bỗng nhiên ngờ ngợ trong lòng. Có phải anh ta đã từng ngồi ở đó suốt ba năm qua ? Hay là tôi đã mắc phải một chứng ảo giác kì lạ ?
Mười ngày rồi, tám giờ mười phút sáng, tôi không còn thấy anh ta.
Đời vẫn trôi qua, hờ hững đến bình thản.
Tôi kẹp tờ báo Pháp Luật vào bên nách, chỉnh lại chiếc mũ nồi sọc ca rô đen trắng con gái tôi tặng, đẩy cửa bước vào quán quen.
Tôi thích quán cafe này, mặc dù đối với cà phê tôi không phải một người có hứng thú. Chỉ đơn giản là vào một ngày nọ, khi đôi chân lang thang đã đến lúc mỏi, bạn bất chợt dừng lại nơi đây, gọi bừa một món đồ gì đó, và chậm rãi thưởng thức chúng trong khoảng lặng của riêng mình.
Chị chủ quán như thường lệ tươi cười chào tôi. Đó là một người phụ nữ ngoại tứ tuần, gương mặt chẳng xinh chẳng xấu, không béo không gầy, không cao cũng không thấp,ngoại trừ tấm lưng dài quá cỡ còng hơi sớm so với tuổi, chị chàng nói chung không có gì ấn tượng. Tôi chào lại chị, và theo thói quen bước lên tầng hai, tìm đến một bàn gần cửa kính. Đây là chỗ ngồi ưa thích của tôi, ở quán này, mỗi sáng, lúc tám giờ mười phút.
Tôi ngả lưng vào chiếc ghế tựa điệu đà, để mùi thơm nồng đặc trưng của một quán cà phê ập vào mơn man cánh mũi. Saxophone chơi một bản nhạc bất hủ mà tôi đã nghe hàng trăm lần vẫn không nhớ được tên. Bàn bên, duyên dáng cắm một bông hoa đồng tiền.
Đó là chỗ ngồi quen thuộc của anh ta.
Tôi không biết anh ta đến quán từ bao giờ, nhưng lần đầu tiên tôi lạc bước nơi này, anh ta ngồi đó, lọt thỏm trong chiếc măng tô đen hơi sờn, phì phèo một điếu thuốc mà từ góc tôi ngồi không trông rõ nhãn hiệu. Và chậm chạp. Ba năm nay, tám giờ mười phút, những hạt cà phê đen tròn vẫn tí tách nhỏ giọt.
Anh ta luôn luôn ở đó, như một món đồ cổ tô đậm lên cái vẻ cổ điển đầy lãng mạn nơi này.
Chưa bao giờ tôi thấy anh ta nói chuyện. Anh ta chỉ ngồi yên đó, ù lì đắm chìm trong một thế giới nào đó tôi không hiểu, đôi mắt quầng chẳng lúc nào rời khỏi tách cà phê, như thể anh ta chẳng có việc gì để làm, ngoài việc đếm từng giọt.
Từng giọt.
Nhưng sáng nay tôi không thấy anh ta.
Có lẽ anh ta có công việc đột xuất gì đó …
***
Sáng nay, cô nhân viên chạy bàn không thấy ông khách thường mặc áo măng tô bước vào quán lúc tám giờ kém mười, dừng lại trước quầy tính tiền chừng mười phút để chơi một bản nhạc bằng cây ghi ta treo cạnh đó như một vật trang trí. Chơi đàn xong anh ta lẳng lặng lên tầng hai, ngồi vào cái bàn bên góc trái, bên dưới bức tranh phố cổ bằng gốm Phù Lãng, nơi bông hoa đồng tiền mềm mại uốn mình.
Anh ta không bao giờ gọi đồ, nhưng chị chủ sáng nào cũng bảo cô mang cho anh ta một tách cà phê đen không đường, và một bao thuốc lá 555. Lúc anh ta về, luôn để lại hai điếu chưa hút, và một số tiền nhét trong vỏ bao. Có khi thiếu, có khi thừa, song chị chủ không bao giờ đếm số tiền ấy, cũng không xếp nó vào hộc tiền trong quầy thanh toán, chỉ lẳng lặng ném món tiền nọ vào một ngăn tủ riêng.
Có một lần nọ, cô đánh bạo hỏi chị chủ quán về người khách kì lạ kia, nhưng chị chỉ trả lời mập mờ không rõ:
– Khách quen !
Sự tò mò chưa thỏa mãn, cô còn muốn hỏi thêm, nhưng chị ta đã lờ đi. Trên bờ môi khô nẻ khẽ cong lên nụ cười héo hắt, đôi mắt sụp mí chợt đưa ánh nhìn ra ngoài phố.
Phố. Hà Nội. Ngày chông chênh.
…
Có những câu hỏi, người ta không muốn trả lời. Có những chuyện đời, người ta muốn giấu giếm. Cô không hỏi nữa. Vì anh ta … chẳng ảnh hưởng gì tới ai, ngoại trừ để lại quá nhiều dấu hỏi.
Có lẽ anh ta có chuyến đi xa.
Hai người khách bước vào, gọi hai cà phê sữa, rồi ngồi tại chiếc bàn có bông hoa đồng tiền. Là một đôi tình nhân. Chị chủ gọi cô đi bê đồ. Hình như, hôm nay, mí mắt của chị ấy sụp xuống nhiều hơn ngày thường.
Cô không biết …
… Chỉ biết sáng nay cô không thấy anh ta.
***
Sáng nay, mấy ông xe ôm hay ngồi ăn xôi ở quán bà Hằng đầu ngõ không còn thấy anh ta ra khỏi nhà vào lúc bảy giờ ba mươi lăm phút, đông cũng như hè, rụt cổ trong chiếc áo măng tô đen dường như không bao giờ giặt, ho khạc rất to, rồi nhổ một bãi đờm xanh lè ra cái bãi chó ỉa cuối ngách.
Bà Hằng đã bán xôi ở đây đến năm bảy năm nay, chưa khi nào thấy anh ta lệch giờ. Nhiều nhà trong xóm, thậm chí còn chỉnh đồng hồ theo mốc giờ anh ta ra ngõ. Nhà anh ta – vàng ệch và im lìm trong một xó vắng người, đối diện với cái cột đèn cao áp chình ình giữa hẻm. Từ ngày anh ta chuyển về đây, hàng xóm chưa bao giờ thấy có ai khác ra vào căn nhà đó, kể cả những ngày lễ Tết. Người lớn lướt qua, ném cho nó một cái nhìn tò mò, rồi lại bàng quan đi thẳng. Còn trẻ nhỏ, chẳng đứa nào dám lảng vảng quanh đó.
Không ai biết anh ta tên là gì, sống ra sao. Không bao giờ thấy anh ta đi làm. Hoặc giả anh ta có đi làm thì mọi người cũng chẳng biết. Lẽ dĩ nhiên thôi, vì chẳng ai biết gì về anh ta cả. Vả lại, họ không cảm thấy cần phải biết.
Hai giờ đêm qua, nhà thờ Thiên Chúa gần đây đánh kẻng.
Sáng nay họ không còn thấy anh ta.
***
Có lẽ anh ta đi rồi chăng ? Rời xa nơi đây, bỏ lại đằng sau những câu hỏi không lời đáp, bỏ lại cuộc sống xô bồ chốn này, bỏ lại những con người này ? Anh ta đi đâu ? Đi đến đâu để anh ta chẳng còn là kẻ kì lạ ? Đi đến đâu để người như anh ta có thể hòa mình ? Đi đến đâu để những năm tháng sau này chẳng còn phải ngồi đếm những hạt thời gian vô nghĩa ?
Tôi không biết.
Và có lẽ, anh ta cũng chẳng muốn ai biết.
Từ dưới nhà, giọng chị chủ hắt lên, thanh điệu vang, hơi khàn, chẳng mang chút sắc thái cảm xúc :
– Hai cà phê trứng vào bàn số hai đê em ơi !
…
Tôi ngơ ngẩn nhìn ra phố. Nắng xanh tràn qua cửa sổ. Bông hoa đồng tiền sắp héo bàn bên ủ rũ đón ánh sáng. Gạt tàn bên ấy trống không.
Tôi bỗng nhiên ngờ ngợ trong lòng. Có phải anh ta đã từng ngồi ở đó suốt ba năm qua ? Hay là tôi đã mắc phải một chứng ảo giác kì lạ ?
Mười ngày rồi, tám giờ mười phút sáng, tôi không còn thấy anh ta.
Đời vẫn trôi qua, hờ hững đến bình thản.
26/04/2014
Canceria
Canceria